Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Những nghành nghề được hưởng lương cao nhất ở Mỹ


Thu nhập không chỉ đánh giá trình độ chuyên môn hay năng lực làm việc của một cá nhân, mà còn cho thấy mức độ quan trọng của công việc mà người đó đang làm.

Chẳng hạn như tại Mỹ, những người làm bác sỹ, bác sỹ phẫu thuật vừa phải có chuyên môn cao vừa phải có khả năng ổn định tâm lý tốt trước mọi tình huống căng thẳng, nên luôn được đánh giá cao và đương nhiên cũng có mức lương cao hơn những nghề khác.

Bảng xếp hạng dưới đây được dựa trên công bố của Cơ quan Thống kê Lao động Mỹ. Thứ bậc trong bảng căn cứ vào số lương trung bình cả năm của mỗi lĩnh vực nghề nghiệp tại tất cả các bang của Mỹ trong năm 2011.

Dưới đây là 15 công việc ở Mỹ đang được nhận lương cao nhất:

15. Nhà vật lý

Nhà vật lý

Nhà vật lý

Mức lương trung bình: 112.020 USD

Số người trong ngành hiện tại: 16.860 người

Chicago là nơi tập trung nhà vật lý đông nhất với 2.580 người và cũng là nơi có mức lương trung bình trả cho những lao động trong ngành này tốt hơn so với các vùng khác, ở mức 132.230 USD/năm.

14. Phụ trách tổng hợp

Phụ trách tổng hợp

Phụ trách tổng hợp

Mức lương trung bình: 113.100 USD

Số người trong ngành hiện tại: 1.708.080 người

Những người làm nghề này phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, từ lên kế hoạch, phối hợp hoạt động các bộ phận công – tư, hoặc thậm chí là lên kế hoạch sử dụng nguyên vật liệu và nhân lực… Lương cao nhất trong nghề này là 142.000 USD/năm.

13. Chuyên gia tâm lý các tổ chức công nghiệp

Chuyên gia tâm lý các tổ chức công nghiệp

Chuyên gia tâm lý các tổ chức công nghiệp

Mức lương trung bình: 114.040 USD

Số người trong ngành hiện tại: 1.420 người

Những người làm trong nghề này không nhiều so với những ngành khác. Hiện tại ở Mỹ, hai thành phố tập trung nhiều chuyên gia tâm lý nhất là Washington D.C. và Boston.

12. Quản lý kinh doanh

Quản lý kinh doanh

Quản lý kinh doanh

Mức lương trung bình: 114.110 USD

Số người trong ngành hiện tại: 319.300 người

Mức lương chi trả cho nghề này có sự biến động lớn giữa các khu vực. Những nơi trả lương cao nhất cho người làm nghề này gồm New York (171.820 USD), Boston (148.170 USD) và Anaheim-Irvine (129.840 USD), trong khi ở Chicago là 108.960 USD hay Phoenix là 100.500 USD.

11. Phi công, phi công phụ, kỹ sư hàng không

Phi công, phi công phụ, kỹ sư hàng không

Phi công, phi công phụ, kỹ sư hàng không

Mức lương trung bình: 115.300 USD

Số người trong ngành hiện tại: 68.580 người

Các thành phố có đông phi công nhất là Anchorage, bang Alaska và Fort-Worth-Arlington, bang Texas.

10. Giám đốc tài chính

Giám đốc tài chính

Giám đốc tài chính

Mức lương trung bình: 116.970 USD

Số người trong ngành hiện tại: 478.940 người

Nghề giám đốc tài chính không hề dễ làm, nên thu nhập luôn tương xứng với công sức người lao động bỏ ra. Những nơi trả lương cao nhất cho nghề này là New York (155.600 USD), New Jersey (136.960 USD), Delaware (134.790 USD) and California (130.040 USD).

9. Quản lý marketing

Quản lý marketing

Quản lý marketing

Mức lương trung bình: 122.720 USD

Số người trong ngành hiện tại: 164.590 người

Thành phố San Jose của California có mật độ lao động làm nghề quản lý marketing đông nhất và cũng là nơi có mức lương trả cho nghề này cao nhất, với mức trung bình đạt 152.560 USD/năm.

8. Quản lý máy tính và hệ thống thông tin

Quản lý máy tính và hệ thống thông tin

Quản lý máy tính và hệ thống thông tin

Mức lương trung bình: 123.280 USD

Số người trong ngành hiện tại: 288.660 người

Lương của những người thuộc ngành này dao động khá mạnh, từ mức 73.430 USD/năm ở Kansas cho tới 207.840 USD ở Jacksonville, North Carolina.

7. Quản lý kiến trúc và xây dựng

Quản lý kiến trúc và xây dựng

Quản lý kiến trúc và xây dựng

Mức lương trung bình: 125.900 USD

Số người trong ngành hiện tại: 174.720 người

Mặc dù California và Texas tập trung đông nhất người làm nghề này, với 28.860 người ở California, 14.330 người ở Texas. Nhưng, bang trả lương cao nhất là Alaska với 150.060 USD.

6. Kỹ sư dầu khí

Kỹ sư dầu khí

Kỹ sư dầu khí

Mức lương trung bình: 127.970 USD

Số người trong ngành hiện tại: 28.210 người

Nghề kỹ sư dầu khí luôn có giá. Thành phố Houston, bang Texas là nơi tập trung đông nhất những người theo nghề này. Lương tại đây trung bình là 135.270 USD, cũng là cao nhất nước Mỹ.

5. Quản lý khoa học tự nhiên

Quản lý khoa học tự nhiên

Quản lý khoa học tự nhiên

Mức lương trung bình: 129.320 USD

Số người trong ngành hiện tại: 45.920 người

Bang trả lương cao nhất cho công việc này bao gồm New Jersey (172.500 USD) và Pennsylvania (172.480 USD)

4. Luật sư

Luật sư

Luật sư

Mức lương trung bình: 129.440 USD

Số người trong ngành hiện tại: 561.350 người

Luật sư là nghề hốt bạc ở Mỹ, nhưng được lương cao nhất là ở thành phố San Jose, bang California (184.660 USD); Danbury bang Connecticut (174.540 USD) và San Francisco (172.080 USD).

3. Nha sỹ

Nha sỹ

Nha sỹ

Mức lương trung bình: 158.770 USD

Số người trong ngành hiện tại: 87.700 người

Các bang hiện trả lương nha sỹ cao nhất gồm có New Hampshire (222.680 USD), North Dakota (207.810 USD) và Maine (205.050 USD).

2. Giám đốc điều hành

Giám đốc điều hành

Giám đốc điều hành

Mức lương trung bình: 173.350 USD

Số người trong ngành hiện tại: 273.500 người

Là người đứng mũi, chịu sào của một doanh nghiệp, trách nhiệm của giám đốc điều hành là lớn nhất, nên mức lương cũng rất cao. Hiện CEO tại các thành phố Durham, bang North Carolina và Columbus thuộc bang Indiana là được hưởng lương cao nhất, với 226.580 USD ở Durham và 222.290 USD ở Columbus.

1. Bác sỹ và bác sỹ phẫu thuật

Bác sỹ và bác sỹ phẫu thuật

Bác sỹ và bác sỹ phẫu thuật

Mức lương trung bình: 165.720 – 225.390 USD

Đứng đầu trong danh sách này là bác sỹ và bác sỹ phẫu thuật. Trong đó bác sỹ phẫu thuật có mức lương cao nhất, lên tới 225.390 USD. Tuy nhiên, bác sỹ thuộc các chuyên khoa khác nhau sẽ hưởng lương khác nhau và địa điểm làm việc cũng quyết định một phần mức thu nhập.

Chẳng hạn, đối với bác sỹ đa khoa, những nơi trả lương cao nhất là Monroe, bang Lousianana (244.820 USD); Nashua bang New Hampschire (243.950 USD) và Chattanooga bang Tennessee (236.520 USD).

HỒNG NGỌC


(Theo website Nguyễn Bảo Hoàng )

Điều gì sẽ xảy ra nếu Chính phủ Hoa Kỳ không nâng trần nợ?


Nền kinh tế đầu tàu thế giới có khả năng bị hạ bậc tín dụng trong vài tuần tới, nếu các nghị sỹ Mỹ thất bại trong việc đàm phán nâng trần nợ khiến chính phủ nước này mất khả năng thanh toán các khoản nợ tài chính, tổ chức định mức tín nhiệm Moody’s vừa lên tiếng cảnh báo ngày 13/7.

Đây là lần đầu tiên Moody’s đưa xếp hạng tín dụng Aaa của Mỹ vào diện xem xét hạ bậc. Điều này là tín hiệu cho thấy Mood’s sẽ sớm hạ bậc tín dụng của nền kinh tế đầu tàu. Trong một tuyên bố, tổ chức này cho biết ngày càng có khả năng trần nợ sẽ không được nâng lên trước hạn chót 2/8.

Mức xếp hạng tín dụng thấp hơn có thể phá hủy thị trường tài chính thế giới và tăng chi phí vay cho chính khủ và doanh nghiệp, đe dọa tài chính công và kéo lùi hồi phục kinh tế. Hôm 18/4, tổ chức Standard & Poor’s cũng đã hạ triển vọng tín dụng của Mỹ xuống mức tiêu cực, xem xét hạ bậc trong 12 -18 tháng.

my

Đàm phán nâng trần nợ giữa hai đảng trong Quốc hội Mỹ vẫn bế tắc.

Hiện Quốc hội Mỹ và Tổng thống Barack Obama vẫn đang tranh cãi về một thỏa hiệp cho phép nâng mức trần nợ của Mỹ lên 14.300 tỷ USD. Nếu như chính quyền của Tổng thống Obama và Quốc hội Mỹ không đạt được bất kỳ thỏa thuận nào trước ngày 2/8 tới, nước Mỹ sẽ rơi vào thảm cảnh “hết tiền”.

Trước đó một ngày, hôm 12/7, Thị trưởng thành phố New York, ông Michael Bloomberg, đã lên tiếng cảnh báo rằng, việc Mỹ rơi vào tình trạng bị vỡ nợ do không nâng trần nợ, sẽ là một thảm họa đối với hệ thống tài chính của nước này.

Theo ông Bloomberg, Chính phủ Mỹ phải tránh gây tổn hại đến nền kinh tế đất nước, cũng như uy tín của Mỹ trên thế giới. Ông cảnh báo, việc Mỹ vỡ nợ sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng đến nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh nước này đang cố gắng phục hồi sau suy thoái.

Cũng về kinh tế Mỹ, theo báo cáo của Bộ Tài chính nước này, thâm hụt ngân sách tháng 6 là 43,1 tỷ USD, thấp hơn so với 68,4 tỷ USD cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm tài khóa tới nay, thâm hụt ngân sách Mỹ là 970,5 tỷ USD, thấp hơn so với 1.000 tỷ USD cùng kỳ năm trước.

Ủy ban Ngân sách Quốc hội dự báo, thâm hụt ngân sách 2011 có thể chạm mức kỷ lục 1.400 tỷ USD. Điều này càng cho thấy Mỹ cần nhanh chóng nâng giới hạn nợ trước thời hạn chót là ngày 2/8 tới.

Trong lúc kinh tế Mỹ đang bị đe dọa, thì hôm qua (13/7), tổ chức Fitch Ratings bất ngờ mạnh tay hạ 4 bậc tín nhiệm của Hy Lạp từ B+ xuống CCC, thấp hơn 8 bậc so với cấp độ đầu tư. Dù bị loại ra khỏi diện theo dõi hạ bậc, nhưng mức xếp hạng này cho thấy rủi ro vỡ nợ là rất lớn.

Lý do khiến Fitch có động thái này là bởi sự thiếu hụt của một chương trình cấp vốn mới và đầy đủ cho nước này. Bên cạnh đó, bất ổn ngày càng lớn xung quanh vai trò của các trái chủ tư nhân trong các chương trình giải cứu tương lai của Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

Ngoài ra, trong thông báo của mình, Fitch còn chỉ ra một nguyên nhân khác nữa là sự yếu kém của nền kinh tế Hy Lạp. Đây là động thái mới nhất liên quan tới xếp hạng tín dụng của quốc gia châu Âu đang nặng gánh nợ nần này, gây thêm lo lắng cho khu vực vốn đã có quá nhiều bất an.

Cũng liên quan tới vấn đề nợ công châu Âu, hội nghị thượng đỉnh bất thường các nhà lãnh đạo Khu vực đồng Euro (Eurozone) có khả năng sẽ diễn ra vào ngày 15/7tại Brussels. Hội nghị nhằm tìm kiếm các biện pháp giải quyết khủng hoảng nợ ngày một nghiêm trọng có nguy cơ đe dọa sự sống còn của Eurozone.

Báo chí Bỉ bình luận, việc cuộc họp thượng đỉnh bất thường có khả năng diễn ra, đã cho thấy những lo lắng ngày càng tăng của giới lãnh đạo châu Âu về mối nguy hiểm của cuộc khủng hoảng nợ đang đe dọa Italy và Tây Ban Nha. Lãi suất đi vay của các quốc gia này đã tăng cao, trong khi chỉ số chứng khoán mất điểm.

Hôm qua, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã yêu cầu Italy áp dụng cắt giảm chi tiêu côngnhằm tránh một cuộc khủng hoảng nợ công giống Hy Lạp và Ireland. IMF cho rằng, Rome đã quá lạc quan về tăng trưởng kinh tế của họ.

Trên thực tế, Chính phủ Italy cũng đang xúc tiến các kế hoạch thắt lưng buộc bụng. Bộ trưởng Bộ Tài chính Giulio Tremonti đề nghị cắt giảm 48 tỷ euro ngân sách trong vòng 3 năm và hạ thâm hụt ngân sách xuống mức 0% vào năm 2014 so với mức 3,9% GDP hiện nay.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, với quy mô kinh tế lớn, một khoản vay nếu có để cứu kinh tế Italy sẽ rất lớn vì tổng số nợ công của nước này là 1,57 ngàn tỷ Euro so với con số 392 triệu Euro của Hy Lạp và 170 tỷ Euro của Ireland và con số tương tự của Bồ Đào Nha.

Trong cuộc họp hôm 11/7 vừa qua, các bộ trưởng tài chính Eurozone đã đạt được một số kết quả nhất định như tăng cường quỹ cứu trợ tài chính bằng cách trang bị một số công cụ mới cũng như giảm lãi suất đối với các khoản vay dành cho Hy Lạp trong gói cứu trợ thứ hai. Nhưng các biện pháp này vẫn chưa đủ.

Thông tin từ Trung Quốc cho hay, kinh tế nước này đã tăng trưởng 9,5% trong quý 2 vừa qua, vượt mong đợi của giới phân tích. Điều này sẽ giúp Bắc Kinh tự tin hơn trong việc thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm kìm chế lạm phát cao như hiện nay.

Mặc dù mức tăng trưởng trong quý 2 còn thấp hơn mức 9,7% của quý 1, nhưng đã cao hơn dự đoán 9,4% của nhiều chuyên gia trước đó. Sản lượng công nghiệp tăng 15,1% trong tháng 6 so với cùng kỳ năm ngoái và tăng mạnh so với mức 13,3% của tháng 5, trong khi dự đoán chỉ là 13,1%.

Cũng liên quan tới Trung Quốc, viện trợ phát triển chính thức mà Chính phủ Nhật dành cho Trung Quốc trong tài khóa 2012 sẽ giảm khoảng 350 triệu Yên so với năm 2011. Tuy nhiên, mức giảm này thấp hơn nhiều so với dự kiến ban đầu.

Mức cắt giảm vừa được Chính phủ Nhật thông qua trên chỉ tương đương 7,6% ngân sách ODA mà nước này dành cho Trung Quốc trong năm 2011. Con số này cũng thấp hơn nhiều so với đề xuất được cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Seiji Maehara đề xuất khi ông này còn tại nhiệm.

Một quan chức cấp cao trong Bộ Ngoại giao Nhật cho rằng, sở dĩ chính phủ nước này không cắt giảm mạnh viện trợ ODA cho Trung Quốc, là vì không muốn “gây tổn hại tới quan hệ song phương đã có nhiều cải thiện trong thời gian gần đây”.

Việc cắt giảm viện trợ phát triển chính thức bắt đầu được Chính phủ Nhật cân nhắc trước nhu cầu vốn rất lớn nhằm tái thiết cơ sở hạ tầng và kinh tế trong nước sau thảm họạ kép động đất, sóng thần hồi đầu tháng 3. Riêng trong năm nay, Nhật dự kiến giảm 22% vốn ODA so với tài khóa 2010.


(Theo website Nguyễn Bảo Hoàng )

GS Đại học Hải quân Mỹ: Trung Quốc vi phạm căn bản luật quốc tế


nguyen bao hoang
Đảo Đá Lớn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. (Ảnh: Thanh Vũ)

Sáng 21/6, cuộc hội thảo về an ninh Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ tiếp tục diễn ra với các phiên thảo luận đánh giá tính hiệu quả của các cơ chế an ninh trên biển hiện có tại Biển Đông và đề xuất chính sách nhằm tăng cường an ninh khu vực.

Đánh giá về các cơ chế hiện có để giải quyết tranh chấp, giáo sư Peter Dutton của Đại học Hải quân Mỹ cho rằng hiện có hai cơ chế là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC).

“UNCLOS nói rõ rằng tuyên bố về quyền tài phán của một quốc gia đối với tài nguyên phải dựa trên yếu tố địa lý của đường bờ biển. Việc Trung Quốc tuyên bố quyền tài phán trong đường chữ U, hay đường 9 khúc, mà không đề cập dù là gián tiếp đến các đặc điểm địa lý từ bờ biển hay đường cơ sở là một vi phạm căn bản luật quốc tế.”

Ông Dutton nhấn mạnh rằng đường chữ U là một trong hai nguồn chính gây căng thẳng trên Biển Đông.

Liên quan đến DOC, trong cuộc thảo luận trước đó, Giám đốc Chính trị và An ninh của Ban Thư ký ASEAN, ông Termsak Chalermpalanupap cho biết ASEAN đã 20 lần đưa ra dự thảo về hướng dẫn thực hiện DOC, nhưng đều bị Trung Quốc từ chối và hiện ASEAN đang chuẩn bị dự thảo thứ 21.

Tiến sỹ Dutton cho rằng không bao giờ thiếu những ý tưởng để giải quyết vấn đề, mà chỉ thiếu ý chí chính trị. “Các bên đều phải có nhượng bộ về chính trị, nếu không sẽ dẫn đến việc nước mạnh hơn sẽ làm những gì có thể làm và nước nhỏ làm điều phải làm.”

Chung quan điểm này, tiến sỹ Stein Tonnesson thuộc Viện Hòa bình Oslo của Nauy đề xuất một số điểm ông cho rằng các quốc gia có thể nhượng bộ để giải quyết tranh chấp.

Ông Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam cho rằng cần thúc đẩy hợp tác về biển và quân sự dưới hình thức tuần tra chung, diễn tập chung với sự tham gia của Trung Quốc, ASEAN và các nước có liên quan; đồng thời các bên cần công khai, minh bạch, giảm mua sắm vũ trang và thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin.

Về cơ chế “khai thác chung,” hầu hết các học giả đều nhận định rằng cơ chế này đã không phát huy tác dụng, bởi các bên không thống nhất với nhau trong việc xác định đâu là khu vực tranh chấp, đâu là khu vực không có tranh chấp.

Cuộc hội thảo diễn ra trong hai ngày 20 và 21/6, với sự tham gia của hơn 100 học giả, quan chức ngoại giao và nhà báo quốc tế.

Một số quan chức cấp cao như Thượng nghị sỹ Mỹ John McCain, Cựu Giám đốc Tình báo Quốc gia John Negroponte đã có bài phát biểu quan trọng, kêu gọi việc giải quyết tranh chấp bằng các cơ chế đa phương và luật pháp quốc tế./.

Đỗ Thúy


(Theo website Nguyễn Bảo Hoàng )

GS Đại học Hải quân Mỹ: Trung Quốc vi phạm căn bản luật quốc tế


nguyen bao hoang
Đảo Đá Lớn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. (Ảnh: Thanh Vũ)

Sáng 21/6, cuộc hội thảo về an ninh Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ tiếp tục diễn ra với các phiên thảo luận đánh giá tính hiệu quả của các cơ chế an ninh trên biển hiện có tại Biển Đông và đề xuất chính sách nhằm tăng cường an ninh khu vực.

Đánh giá về các cơ chế hiện có để giải quyết tranh chấp, giáo sư Peter Dutton của Đại học Hải quân Mỹ cho rằng hiện có hai cơ chế là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC).

“UNCLOS nói rõ rằng tuyên bố về quyền tài phán của một quốc gia đối với tài nguyên phải dựa trên yếu tố địa lý của đường bờ biển. Việc Trung Quốc tuyên bố quyền tài phán trong đường chữ U, hay đường 9 khúc, mà không đề cập dù là gián tiếp đến các đặc điểm địa lý từ bờ biển hay đường cơ sở là một vi phạm căn bản luật quốc tế.”

Ông Dutton nhấn mạnh rằng đường chữ U là một trong hai nguồn chính gây căng thẳng trên Biển Đông.

Liên quan đến DOC, trong cuộc thảo luận trước đó, Giám đốc Chính trị và An ninh của Ban Thư ký ASEAN, ông Termsak Chalermpalanupap cho biết ASEAN đã 20 lần đưa ra dự thảo về hướng dẫn thực hiện DOC, nhưng đều bị Trung Quốc từ chối và hiện ASEAN đang chuẩn bị dự thảo thứ 21.

Tiến sỹ Dutton cho rằng không bao giờ thiếu những ý tưởng để giải quyết vấn đề, mà chỉ thiếu ý chí chính trị. “Các bên đều phải có nhượng bộ về chính trị, nếu không sẽ dẫn đến việc nước mạnh hơn sẽ làm những gì có thể làm và nước nhỏ làm điều phải làm.”

Chung quan điểm này, tiến sỹ Stein Tonnesson thuộc Viện Hòa bình Oslo của Nauy đề xuất một số điểm ông cho rằng các quốc gia có thể nhượng bộ để giải quyết tranh chấp.

Ông Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam cho rằng cần thúc đẩy hợp tác về biển và quân sự dưới hình thức tuần tra chung, diễn tập chung với sự tham gia của Trung Quốc, ASEAN và các nước có liên quan; đồng thời các bên cần công khai, minh bạch, giảm mua sắm vũ trang và thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin.

Về cơ chế “khai thác chung,” hầu hết các học giả đều nhận định rằng cơ chế này đã không phát huy tác dụng, bởi các bên không thống nhất với nhau trong việc xác định đâu là khu vực tranh chấp, đâu là khu vực không có tranh chấp.

Cuộc hội thảo diễn ra trong hai ngày 20 và 21/6, với sự tham gia của hơn 100 học giả, quan chức ngoại giao và nhà báo quốc tế.

Một số quan chức cấp cao như Thượng nghị sỹ Mỹ John McCain, Cựu Giám đốc Tình báo Quốc gia John Negroponte đã có bài phát biểu quan trọng, kêu gọi việc giải quyết tranh chấp bằng các cơ chế đa phương và luật pháp quốc tế./.

Đỗ Thúy


(Theo website Nguyễn Bảo Hoàng )